Ba Ly Cà Phê Thôi Nhỉ

Bs. Nguyễn Ý Đức & BS Hồ Ngọc Minh
Người Việt ta thì nước trà hoặc miếng trầu là đầu câu chuyện.
Với các quốc gia Tây phương, mời nhau uống cà phê là tượng trưng cho lòng hiếu khách. Người ta rủ nhau ra quán làm ly cà phê để có cơ hội tâm sự, đấu láo cũng như bàn bạc chuyện này chuyện nọ. Tại công tư sở khắp nơi, cà phê được pha sẵn để mọi người dùng trong lúc làm việc cũng như vào giờ giải lao.
Nhiều người đã đồng nghĩa cà phê với tình bạn và sự thư giãn tâm hồn. Còn đối với các bạn học sinh sau nhiều giờ học, ít giờ ngủ thì cà phê là ly thần dược giúp đầu óc tỉnh táo. Cho nên vừa thức giấc vào buổi sáng mà thưởng thức ly cà phê mới pha thơm phức; ăn bữa cơm trưa lại kèm theo chai nước coca lạnh hoặc thư giãn ở nhà buổi tối với tách nước trà Mạn Hảo, thì trong những nguồn lạc thú đó đều có chung một chất: chất caffeine.

Từ lâu, Caffeine đã được coi như một thứ thuốc có tác dụng kích thích và là một gia vị thực phẩm. Nước uống có chất caffeine đã được thông dụng từ nhiều ngàn năm trên khắp hoàn vũ. Dù caffeine đã là một trong những chất được nghiên cứu rộng rãi nhưng vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau cũng như ngộ nhận về chất có khả năng một phần nào ảnh hưởng tới tâm tính con người.
Nguồn gốc cà phê
Theo huyền thoại, một chú chăn dê ở châu Phi thấy bầy dê của y sau khi ăn những hạt cà phê thì suốt đêm chạy nhảy, đùa rỡn với nhau. Cậu bèn ăn thử và thấy trong người tỉnh táo ra, có nhiều năng lực làm việc. Cậu ta mang về cho dân làng dùng thử. Mọi người đều thích thú thưởng thức.
Cà phê được trồng đầu tiên ở Châu Phi cả nhiều ngàn năm về trước. Nơi đây dân chúng dùng hạt cà phê như một thứ tiền tệ để mua bán và làm thực phẩm.
Vào thế kỷ thứ 11, cà phê rất phổ thông ở các xứ Ả Rập. Phụ nữ thường uống cà phê để bớt đau bụng khi có kinh nguyệt. Dân Thổ Nhĩ Kỳ lại cho cà phê là loại kích dục tốt. Nhiều tín đồ tôn giáo uống để được tỉnh táo mà cầu nguyện. Nhưng các vị lãnh đạo tôn giáo chính thống lại phản đối, cho cà phê là loại nước uống độc hại. Kinh Coran nghiêm cấm và trừng phạt người nào uống nước có caffeine. Mặc dù vậy, số người dùng cà phê vẫn gia tăng.
Cà phê xâm nhập Âu châu vào những năm 1600. Khi thấy dân Ả Rập uống nhiều cà phê quá, giáo sĩ Công Giáo phê bình cà phê như một thứ “Nước Uống Quỷ Quái” (Devil Drink) để đáp ứng cho việc Rượu Lễ của mình bị người theo đạo Hồi gọi là “Nước Gây Rồ Dại” (Demonic Drink). Nhưng Giáo Hoàng Clement VIII lại thấy cà phê có hương vị thơm ngon, ngài ca ngợi và phán:“ Cà phê ngon như vậy mà chỉ dành cho dân ngoại đạo dùng là điều đáng tiếc” và cho con chiên được tự do uống.
Vào thế kỷ 17, bên Pháp, cà phê được đặt dưới sự kiểm soát của y giới và được giới thiệu là thuốc trị bách bệnh. Dân chúng rất ưa thích uống cà phê mặc dù y giới chống đối. Lý do là đã xảy ra trường hợp uống quá nhiều cà phê đưa đến triệu chứng ngộ độc như mất ngủ, tâm thần khích động, tim đập nhanh và loạn nhịp, chân tay run rẩy, tai ù, hơi thở gấp rút, rối loạn tâm thần, kinh phong.
Các thảo mộc có caffeine
a) Cây cà phê, trồng nhiều ở các quốc gia vùng nhiệt đới. Hạt cây cà phê rang tới khi nâu đậm sẽ cho một mùi rất thơm và số lượng caffeine là 1-2%.
b) Trà xanh hoặc trà đen, trồng nhiều ở Đông Nam Á châu mà số lượng caffeine nhiều ít tuỳ loại và tuỳ cách chế biến. Trung bình tỷ lệ caffeine trong trà khoảng 4%.
c) Cây Cola có nhiều ở Tây Phi Châu, Tây Ấn Độ với 3% caffeine.
d) Cây cacao nguyên thuỷ ở Mexico, nhưng nay được trồng nhiều ở vùng nhiệt đới. Hạt cacao cho một lượng caffeine nhỏ.
f) Cây Guarana là loại cây leo ở Ba Tây, cho lượng caffeine là 3.5%.
g) Có hai loại cà phê phổ thông trên thị trường:
Coffea Robusta (Cà Phê Vối) được trồng ở vùng đất thấp so với mặt biển, nhiệt độ ấm áp như tại các quốc gia miền Đông bán cầu. Loại này dễ trồng, ít tổn phí chăm sóc, cho nhiều hoa lợi nên được sử dụng nhiều để chế biến cà phê bột tan ngay và cà phê hộp. Cà phê này có nhiều caffeine gấp đôi C Arabica.
Coffea Arabica (Cà Phê Chè) mọc tốt ở địa thế cao, khí hậu không quá nóng hoặc quá lạnh, đất phì nhiêu, ẩm nhưng không đọng nước. Cà phê này được coi như có phẩm chất đặc biệt thơm ngon.
Tác dụng của caffeine
Caffeine là một hoá chất hữu cơ thuộc nhóm purines. Một giờ sau khi uống, lượng caffeine từ hệ tiêu hoá nhập vào máu lên cao nhất. Sau đó caffeine được gan chuyển hoá rồi được thải ra ngoài qua nước tiểu trong vòng 24 giờ. Thời gian bán huỷ là từ 3-5 giờ nên caffeine không tích tụ trong cơ thể. Uống cà phê mà hút thuốc lá thì caffeine thải ra mau hơn.
Tác dụng chính của caffeine là kích thích hệ thần kinh trung ương, tăng sinh hoạt trí tuệ, làm ta tỉnh táo nhất là khi con người mỏi mệt hoặc chán nản.
Năm 1970, Bác Sĩ J. Murdochitchie đã nghiên cứu rộng rãi sự lợi hại của cà phê và ghi trong tác phẩm The Pharmacological Basis of Therapeutics như sau:
“Cà phê kích thích phần vỏ não. Sự kích thích này làm ta suy nghĩ sáng suốt và mau lẹ hơn, làm cơ thể bớt ngây ngất, mệt mỏi, động tác chân tay bền bỉ hơn. Nếu uống một hay hai ly cà phê, lực sĩ đua xe đạp thấy sức đạp xe tăng lên 7% và kéo dài lâu hơn 40%.”
Trong Executive Fitness Newsletter ngày 13 tháng 10 năm 1984 có ghi caffeine là chất kích thích thần kinh trung ương rất mạnh và đưa tới tăng nhịp tim, tăng chuyển hoá căn bản, tăng dịch vị bao tử, gây khó ngủ; nếu tiêu thụ nhiều hơn thì sẽ có trạng thái lo lắng, bồn chồn, nóng nẩy, nhức đầu chóng mặt, buồn nôn, ói mửa. Caffeine cũng làm đường huyết lên cao nhưng vài phút sau lại giảm xuống ngay; làm co cơ thịt trong thành động mạch, tăng sức bóp của tim, tăng máu từ tim đưa ra, tăng huyết áp, tăng bài tiết nước tiểu. Ngoài ra caffeine làm tăng sự dẻo dai của lực sĩ thể thao, vì thế Uỷ Ban Vận Hội kiểm soát xem họ có dùng quá nhiều chất kích thích này.
Mỗi người có sức chịu đựng với lượng cà phê nhiều ít khác nhau. Bình thường cơ thể chịu được khoảng 200mg caffeine. Khi dùng trên 1000 mg thì có người thấy mất ngủ, hồi hộp, tim đập nhanh, thở hổn hển, ù tai, buồn tiểu, sót ruột. Tử vong có thể xảy ra khi dùng trên 10 gram (80-100 ly) caffeine.
Ảnh hưởng của caffeine với sức khoẻ
Về ảnh hưởng của chất caffeine lên sức khoẻ thì ý kiến thuận nghịch vẫn còn nhiều. Xin lần lượt tìm hiểu dẫn chứng của đôi bên.
1) Ý kiến thuận
Năm 1958, Cơ Quan Dược Phẩm và Thực Phẩm Hoa Kỳ đã xếp caffeine vào danh sách các chất được coi như an toàn và không có nguy hại. Tới năm 1983, cơ quan tái xác định quan điểm trên vì có nhiều nghiên cứu mới nêu ra những điểm bất lợi của caffeine. Hội Y Khoa Hoa Kỳ cũng có ý kiến tương tự: uống cà phê hay trà vừa phải không có ảnh hưởng xấu cho sức khoẻ. Theo nhiều nhà chuyên môn, dùng không quá 300mg caffeine mỗi ngày (tương đương với ba ly cà phê) thì là mức độ trung bình.
Trẻ em với cà phê
Nhiều bậc cha mẹ tỏ ý e ngại khi thấy con trẻ uống nhiều nước giải khát có caffeine. Theo viện Y Tế Quốc Gia Hoa Kỳ thì trẻ con và người lớn đều có khả năng biến hoá caffeine như nhau và caffeine không có ảnh hưởng gì tới sự năng động và sự tập trung của chúng. Tuy nhiên, caffeine là một chất có tác dụng như dược phẩm nhẹ và tuỳ theo số lượng, có thể kích thích hệ thần kinh. Trung bình các em có thể dùng từ 50-60 mg caffeine một ngày.
Caffeine với ung thư
Có một thời gian, caffeine và cà phê đã bị gán cho là có thể gây ra vài loại ung thư như bao tử, miệng, gan, ruột già, vú. Nhưng các nghiên cứu mới đây đã gỡ nỗi oan này cho caffeine. Tài liệu hướng dẫn về dinh dưỡng của Viện Ung Thư Hoa Kỳ nhấn mạnh là không có bằng chứng nào về việc caffeine làm tăng nguy cơ ung thư các loại.
Nghiên cứu ở Nhật, Na Uy, Mỹ đều trấn an giới tiêu thụ là caffeine không gây ung thư. Đồng thời nghiên cứu của Bác Sĩ Lee Wattenberg tại Đại Học Minnesota lại cho là cà phê xanh có thể ngăn chặn ung thư ở các con vật trong phòng thí nghiệm và nghiên cứu ở Na Uy cho là caffeine có thể ngừa ung thư ruột già.
Caffeine và bệnh tim
Nhiều người cho là cà phê làm tăng huyết áp nên sợ không giám uống. Cũng có người nghĩ cà phê làm tim đập nhanh, có thể đưa tới suy tim. Sở dĩ họ tin như vậy là vì một nghiên cứu của Đại Học Y Khoa John Hopkins vào năm 1985 cho hay nếu uống trên năm ly cà phê mỗi ngày thì nguy cơ bệnh tim tăng lên gấp ba lần so với người không uống cà phê.
Sự thực thì caffeine dùng vừa phải (1-2 ly một ngày) không làm tăng huyết áp hoặc cơn đau tim, trừ khi một số người quá nhậy cảm với caffeine thì huyết áp có thể tăng lên chút ít nhưng kéo dài không quá vài giờ đồng hồ. Nhiều nghiên cứu cho hay sự tăng huyết áp này cũng giống như khi ta bước lên mười bậc cầu thang. Mấy nghiên cứu ở Ý năm 1987 cho là đàn bà uống cà phê mỗi ngày thì huyết áp lại hơi xuống.
Năm 1989, nghiên cứu của Framingham Heart ở Massachusetts cho hay không có một liên hệ nhân quả nào giữa caffeine và bệnh tim mạch. Ngay sau đó, tài liệu của Đại Học Harvard rồi đến tạp chí của Hội Y Khoa Hoa Kỳ, tạp chí The New England Journal of Medicine cũng hỗ trợ kết quả trên và kết luận là dùng caffeine vừa phải không làm tăng nguy cơ bệnh tim hay tai biến mạch máu não.
Tuy nhiên, để an toàn, quý vị bị bệnh tim mạch nên tham khảo bác sĩ coi có nên tiếp tục dùng caffeine và dùng bao nhiêu. Dùng quá nhiều có thể đưa tới rối loạn nhịp tim ở một số cá nhân.
Caffeine và thai nghén
Đã có nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của caffeine vào việc thai nghén và thai nhi.
Năm 1988, một kiến giải được nêu ra là hai ly cà phê mỗi ngày có thể làm giảm khả năng sinh sản của nữ giới. Nhưng có nhiều nghiên cứu khác vào năm 1990 của Trung Tâm Kiểm Soát và Phòng Ngừa Bệnh tại Hoa Kỳ và của Đại Học Harvard đều cho là tiêu thụ caffeine vừa phải không có ảnh hưởng gì đến sự thụ thai, hư thai hay trẻ em sinh thiếu ký.
Nhưng giới chức y khoa cũng như Cơ Quan Thực Phẩm và Dược Phẩm Hoa Kỳ thì cẩn thận hơn và vẫn khuyên các bà mẹ mang thai là không nên uống quá hai ly cà phê mỗi ngày, để tránh hậu quả không tốt. Về việc nuôi con bằng sữa mẹ cũng vậy: caffeine có thể tràn vào sữa mẹ nhưng nếu chỉ uống hai ba ly một ngày thì cũng không ảnh hưởng gì tới em bé.
e) Caffeine và bệnh loãng xương
Vì dùng nhiều caffeine có đôi chút ảnh hưởng tới sự tiêu thụ calcium trong cơ thể, nên nhiều người cứ sợ caffeine cũng là nguy cơ gây bệnh loãng xương. Nhưng những nghiên cứu gần đây đều không tìm ra liên hệ nhân quả của caffeine với bệnh loãng xương. Như vậy xin quý bà cứ yên tâm mà thưởng thức cà phê, nhưng không nên dùng nhiều quá.
f) Caffeine với hiện tượng chệch múi giờ
Caffeine giúp giải quyết khó khăn của nhiều người khi di chuyển qua nhiều múi giờ khác nhau. Đó là hiện tượng jet lag chệch múi giờ.
Một chuyên viên không gian, Charles F. Ehert, cho là caffeine có thể điều chỉnh nhịp sinh học trong người và làm giảm triệu chứng của chệch múi giờ như rối loạn giấc ngủ, mệt mỏi. Theo ông, vào ngày khởi hành, nếu di chuyển về phía tây thì nên uống ba ly cà phê vào buổi sáng; nếu bay về hướng đông thì ngưng uống cà phê cho đến buổi chiều.
Một nghiên cứu vào năm 1990 kết luận là các vị lão trượng uống cà phê có đời sống tình dục tốt hơn người không uống.
Tập san của American Medical Association số tháng 6 năm 1999 công bố một kết quả nghiên cứu cho hay uống 4 ly cà phê một ngày thì đàn ông có khả năng giảm sạn túi mật tới 45%.
Với phân lượng 250 mg, Caffeine có thể làm mạch máu co lại, giảm bớt số lượng máu lưu hành tới não và thường được dùng để trị migraine headache.
Vì sự quá thông dụng của caffeine, nên Cơ Quan Thực Phẩm và Dược Phẩm Hoa Kỳ và nhiều nhà y khoa học đã dành nhiều thì giờ theo dõi coi chất này có được an toàn cho người tiêu thụ. Caffeine đã được cơ quan này đặt vào danh sách những chất an toàn và tái xác nhận là nước giải khát có caffeine không có hại cho sức khoẻ. Và, với sự dè dặt thường lệ, các cơ quan y tế đều khuyến cáo mọi người nên uống nước có caffeine vừa phải với sức chịu đựng của mỗi cá nhân.
Trong khi đó các nhà sản xuất cà phê vẫn tìm đủ mọi cách để thuyết phục dân chúng về tính cách vô hại của caffeine. Nhưng giới tiêu thụ vẫn e ngại nên họ đòi hỏi thực phẩm có caffeine đều phải ghi rõ trên nhãn hiệu. Và họ cũng đòi hỏi loại cà phê không có caffeine. Cho nên decaffeined cà phê ra đời.
2. Ý kiến nghiêm khắc
Phe nhìn cà phê với đôi mắt nghiêm khắc thì cho là caffeine đưa tới ghiền như ghiền thuốc và có nhiều tác dụng không tốt cho cơ thể. Họ nêu ra những nghiên cứu, nhận xét cho là uống nhiều caffeine gây cao huyết áp, là nguy cơ của cơn suy tim, bao tử bị lở loét, phụ nữ sanh thiếu tháng và thai nhi thiếu kí, có thể gây ra ung thư bọng đái, tuỵ tạng, vú, ruột già, tử cung. Caffeine cũng được nói là làm tăng các triệu chứng khó chịu trước mỗi kinh kỳ như là mất ngủ, lo âu, gắt gỏng, bất an, căng vú, làm tăng sự sản xuất kích thích tố cortisol từ nang thượng thận, làm đàn bà giảm khả năng thụ thai, đàn ông sinh ra tinh trùng bất thường.
Năm 1988, Allen Wilcox Của Viện Nghiên Cứu Triangle Park, North Carolina, quan sát 104 phụ nữ uống một ly cà phê mỗi ngày thì quá nửa dễ dàng mang thai, so với nhóm không uống. Trong khi đó nghiên cứu tại Đại Học Johns Hopkins cho hay uống trên 300 mg caffeine mỗi ngày thì hy vọng có thai giảm đi 17%. Vì thế, Chuyên viên Mark Klebanoff của Viện Nhi Đồng Hoa Kỳ trên Maryland khuyên là các bà muốn có thai nên cắt giảm tiêu thụ cà phê, nhất là với quý vị nào đang có khó khăn trong việc sinh đẻ.
Tạp San New England Journal of Medicine năm 1999 đăng kết quả một nghiên cứu cho hay phụ nữ có thai mà uống trên 6 ly cà phễ mỗi ngày thì có thể bị hư thai.
Trong Tạp San Dịch Tễ Hoa Kỳ số tháng 10 năm 1990 có đăng kết quả nghiên cứu đầu tiên về liên hệ giữa caffeine với gãy xương hông. Theo đó, nếu uống trên ba ly cà phê một ngày thì nguy cơ gãy xương tăng rất cao. Tạp san của American Medical Association ngày 26-1-1994 công bố có sự liên hệ đáng kể giữa uống nhiều cà phê với giảm tỷ trọng đặc của xương hông, cột sống phụ nữ. Bác Sĩ Douglas P Kiel của Đại Học Brown quan sát thói quen uống cà phê của 3170 người và thấy uống nhiều cà phê tăng tỷ lệ gãy xương hông tới 23%. Sự kiện này được giải thích là caffeine rút calcium từ xương, và loại ra khỏi cơ thể qua nước tiểu, xương bị loãng, ròn dễ gãy. Bên Mỹ hàng năm có cả 250,000 trường hợp gãy xương hông.
Ngoài ra, tờ báo y học của Hội Thần Kinh Tâm Trí Hoa Kỳ kể lại trường hợp khá hi hữu như sau: Một vị Đại Tá 37 tuổi than phiền với bác sĩ là từ hơn hai năm, ông ta luôn luôn ở trong tình trạng lo âu, bồn chồn, không tập trung được trí nhớ, đôi khi dễ cau có gắt gỏng với đồng bạn, hay đau bụng, ói mửa, đại tiện không thông, đêm mất ngủ. Các thử nghiệm máu, nước tiểu đều không tìm ra bất thường nào.
Một bác sĩ thần kinh bèn hỏi, cho đầy đủ hồ sơ, là ông có uống nhiều cà phê không. Vị Đại Tá nhận là mỗi ngày ông ta uống tới mười ly cà phê, cộng thêm vài lon coca cola, buổi tối uống thêm ly sữa nóng pha với chocolate. Ông ta nói vì công việc nhiều quá nên cần uống cà phê để tỉnh táo làm việc.
Các bác sĩ bèn yêu cầu vị đại tá ngưng tất cả nước uống có caffeine, thì các triệu chứng trên giảm lần và hết hẳn.
Một vài thắc mắc về cà phê
a) Nhiều người than phiền tối trước uống cà phê làm họ ngủ không ngon giấc, mà buổi sáng dậy cứ mệt mỏi, nhức đầu, phải uống một ly cà phê mới làm việc được. Một cách để giải thích là: Trong sự ngủ, chất êm dịu adenosine bám vào các tế bào thần kinh, làm giảm hoạt động của chúng và giúp ta đi vào giấc ngủ. Khi uống cà phê, thì tế bào thần kinh tưởng caffeine là những phân tử adenosine, nên thu hút chúng. Tế bào trở nên năng động, kích thích não thuỳ tiết ra epinephrine. Epinephrine làm tim đập nhanh, hơi thở dồn dập, con ngươi mở rộng, huyết áp tăng, bắp thịt cương co, con người ở trong trạng thái năng động, tỉnh táo. Nhưng khi epinephrine tan biến thì các đáp ứng trên xẹp xuống, con người mệt mỏi. Muốn có khí thế dũng mãnh, nhiều người phải uống một ly cà phê để có phản ứng tỉnh mạnh kể trên. Họ phụ thuộc vào cà phê như người hút thuốc lá ghiền nicotine.
b) Một thắc mắc nhiều người thường nêu ra là caffeine có thể gây ra phiền phức thì tại sao nước uống có chất này được bán khắp nơi? Câu trả lời rất giản dị. Nước trà, cà phê đã trở nên gia đình hoá và phân lượng caffeine trong các nước uống này không cao đến độ có thể gây nguy hiểm. Ngoài ra đa số uống cà phê với cream hay đường, uống sau khi ăn cơm, nên tác dụng của cà phê cũng giảm phần nào.
Số lượng caffeine trong:
– Một ly cà phê 240 phân khối: phin nhỏ giọt: 85 mg; bột tan liền: 75 mg; giảm caffeine: 3 mg; espresso 30 cc: 40 mg.
– Trong 30 cc trà: Trà Mỹ: 40 mg; trà nhập cảng: 60 mg; bột tan ngay: 28 mg; nước trà lạnh vô chai: 25 mg; nước giải khát: 24 mg; nước ca cao 30 cc: 6 mg; Sữa súc cù là 30c: 6 mg.
Ngoài ra, caffeine còn được dùng trong y học khi phối hợp với thuốc chống đau Aspirin, Tylenol, Ergot alkaloid. Viên thuốc nhức đầu Anacin, Exedrin có 65 mg caffeine.
Vài loại thuốc viên có caffeine là Caffedrine Caplets, Enerjets, NoDoz Maximum Strenght Caplets, Viravin.
c) Đang tiêu thụ nhiều cà phê mà muốn cắt giảm có thể làm như sau:
– Ghi số cà phê uống mỗi ngày cũng như các chất khác có caffeine; coi xem tác dụng của chúng trên cơ thể như thế nào.
– Giới hạn mỗi ngày từ 200- 300 mg caffeine;
– Thay thế cà phê với nước trà, cà phê hoặc nước khác decafe;
– Tập thể dục hàng ngày;
– Ăn uống đầy đủ;
– Ngưng hút thuốc lá
– Yêu cầu người trong nhà hoặc cùng sở cắt giảm cho có đồng minh;
– Nên nhớ thêm rằng cà phê không giúp giải độc rượu sau khi quá chén.
Caffeine vẫn được coi như một dược phẩm có thể đưa tới tâm trạng phụ thuộc cho người tiêu thụ. Vì là thuốc nên cà phê có tác dụng vừa xấu vừa tốt. Không tốt đối với người quá mẫn cảm trước các tác dụng phụ của caffeine cũng như quý vị có vài bệnh kinh niên như cao huyết áp, rối loạn nhịp tim. Vì thế, uống vừa phải là giải đáp cho một số người cần một chút sinh lực nhưng không muốn phụ thuộc vào cà phê. Nếu chưa lệ thuộc vào cà phê thì cũng chẳng nên thử và nếu đã kẹt với cà phê thì ta lại cứ ba ly mỗi ngày cho an toàn cơ thể.

Comments

comments