Em bé cấy bằng IVF có bình thường hay không?

drhobabies
“Em bé được cấy trong ống nghiệm có bình thường hay không?” Đó là câu hỏi mà tôi gần như phải trả lời cho bệnh nhân, nhiều lần mỗi ngày, và không biết bao nhiêu lần trong gần 20 năm hành nghề chữa trị hiếm muộn.

Từ xưa đến nay tất cả các bà mẹ từ ngày đầu mang thai cho đến ngày sinh, ai cũng lo lắng là con mình có bình thường hay không. Nỗi lo đó ngày nay tuy có nguôi ngoai đôi chút nhờ vào các thử nghiệm máu, siêu âm, và nếu cần, thử nước ối. Gần đây có nhiều nghiên cứu mới nhằm giúp đỡ việc chẩn đoán và phát hiện những dị tật di truyền càng sớm càng tốt. Tuy nhiên, lo thì vẫn cứ lo, và có lẽ trăm năm sau, các bà bầu vẫn cứ tiếp tục lo mỗi khi mang thai. Tình mẹ là như thế, lo cho con tới ngày con lớn vẫn còn… lo.

Theo thống kê hiện nay, trong số tất cả các em bé chào đời trên quả địa cầu này, mỗi năm, có từ 3% đến 4% bé sẽ có các dị tật từ những cái nhỏ nhặt thí dụ như mắt một mí hay hai mí không đều nhau cho đến những cái trầm trọng như khuyết tật về hệ thống tim mạch chẳng hạn. Con số trung bình là 3.5% và thay đổi cao thấp tuỳ theo mỗi quốc gia. Con số này không nhỏ, chưa kể rất nhiều khuyết tật trầm trọng được biết qua các thử nghiệm trước khi sanh và cha mẹ đã quyết định chấm dứt thai kỳ sớm.

Như thế, sự truyền giống của loài người thật ra không đơn giản và không hoàn hảo như chúng ta tưởng, chỉ vì đại đa số trường hợp, mọi người may mắn có được mẹ tròn con vuông. Dựa trên những hiểu biết mới nhất, trung bình khoảng 50% thai mới đậu là không được bình thường, rất may, hầu hết thai khuyết tật đó đều bị sẩy, có khi quá sớm nên người mẹ không hay biết vì tưởng lầm là một chu kỳ kinh nguyệt bất thường mà thôi. Khi người mẹ càng lớn tuổi, càng dễ sanh con bị khuyết tật, chỉ số nguy cơ tăng vọt sau 37 tuổi, vì thế tuổi cần quan tâm cho các thử nghiệm hiện nay là 35 tuổi cho dễ nhớ. Thí dụ cho hội chứng sanh con khờ vì hội chứng Down cho người mẹ dưới 20 tuổi là dưới 0.1% so với 1% cho người mẹ trên 40 tuổi, và trên 5% cho người mẹ trên 45 tuổi.

Trở lại với câu hỏi về tỉ số khuyết tật trong các em bé sanh ra bằng phương pháp cấy thai nhân tạo, con số thống kê hiện nay là 3.5% cho các trường hợp cấy thai “tự nhiên”, “regular IVF”, khi tinh trùng cho phép “lội tự nhiên” vào trong trứng theo kiểu “mạnh được yếu thua” cho dù là trong môi trường nhân tạo. Trong trường hợp tinh trùng có vấn đề, phải dùng phương pháp tiêm thẳng tinh trùng vào trứng, ICSI (Intra-cytoplasmic Sperm Injection), chỉ số cao hơn một tí là 3.8%. Như thế chỉ số nầy kể là tương đương với chỉ số khuyết tật khi có thai tự nhiên. Nên nhớ, chỉ số nầy dựa trên đúc kết của trên 36 năm kỹ thuật cấy thai trong ống nghiệm và hằng mấy chục triệu em bé được chào đời bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm. Ở nước Mỹ cơ quan FDA kiểm soát sự an toàn của việc cấy thai rất gắt gao. Nếu phương pháp cấy thai trong ống nghiệm có vấn đề nó không thể tồn tại sau hơn 36 năm va ngày càng phát triển. Năm 2012 trên thế giới có 5 triệu em bé ra đời bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm, và riêng tại nước Mỹ có trên 165 ngàn ca IVF với gần 62 ngàn em bé chào đời

Ở đây, xin mở ngoặc nói về tính khả tín của những nghiên cứu khoa học. Trong trường y khoa, bác sĩ được huấn luyện khi đọc tường trình của một nghiên cứu phải đọc cẩn thận giữa giòng (read in between the lines), có nghĩa là đọc một câu thì phải suy nghĩ một câu trước khi đọc câu kế tiếp. Một nghiên cứu có thể tin cậy được nếu giả thuyết đặt ra đúng, thiết kế nghiên cứu chuẩn, số lượng bệnh nhân nhiều đủ để có thể chứng minh được giả thuyết, kết quả phải khác biệt với hiệu ứng thuốc đường và những biện minh, kết luận hữu lý.

Thỉnh thoảng, bạn có thể nghe hay đọc những tin tức về những trường hợp em bé sanh ra bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm không được bình thường này nọ. Tuy nhiên đa số các nghiên cứu nầy chỉ nhằm mục đích kiểu “vạch lá tìm sâu”, nghĩa là có định kiến trước, và con số em bé đa số chỉ vài trăm em hay vài ngàn em. Mặt khác kết quả thường được phóng đại, thí dụ thay vì nói sự khác biệt là 1% so với 3%, kết luận có thể nói là tăng gấp 3 trên tổng số… 100 em! Một thí dụ khác cho dễ hiểu, khi bạn nuôi cá trong hồ bạn sẽ thấy nhiều khuyết tật của những con cá ấy so với cá ngoài sông, ngoài biển. Ở đây những em bé được cấy vào người mẹ sau khi thụ tinh trong ống nghiệm chính là những con cá rồng bơi lội trong hồ, được quan tâm và “dòm ngó” kỹ hơn những em bé khác được sanh ra tự nhiên.

Thật ra chỉ số em bé bị khuyết tật qua phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm, vẫn được trừ hao là thấp hơn là thụ thai tự nhiên vì các lý do như sau:

1. Thứ nhất, các cặp bị hiếm muộn, vô sinh có thể trong DNA của chính họ đã có một số gene bất thường mà khoa học hiện nay chưa có khả năng phát hiện hết.

2. Thứ nhì, trên 50% phụ nữ tìm gặp bác sĩ chữa hiếm muộn khi họ trên 35 tuổi, khi nguy cơ sanh con bị khuyết tật đã tăng cao.

3. Thứ ba, chỉ số khuyết tật này đang giảm dần vì hiện nay khả năng thành công ngày càng cao, cho nên hầu hết các bác sĩ, kể cả BS. Minh, chỉ chuyển từ 1 đến 2 phôi mà thôi. Làm như thế sẽ tránh tình trạng sanh nhiều con và giảm bớt khuyết tật vì sanh thiếu tháng.

4. Thứ tư, trên thực tế, vì chỉ chuyển những phôi mạnh nhất, các phôi yếu có khuyết tật cũng bị loại bỏ phần nào.

5. Thứ năm, với kỹ thuật PGD hay chẩn bệnh trong phôi thai khi mới 3 ngày tuổi bằng cách thử DNA sẽ giúp giảm tối đa khuyết tật cho em bé trong tương lai.

Một số nhiên cứu khác cũng cho thấy trẻ em sanh ra bằng phương pháp thụ tinh trong ống nhiệm, phần lớn thông minh trước tuổi, người ta không hiểu vì môi trường nhân tạo được lựa chọn khi cấy hay vì yếu tố xã hội, khi các em này được nuôi dạy cẩn thận vì các em là “những con cá rồng” quý hiếm. Trong suốt 20 năm hành nghề, hầu hết cha mẹ các em do tôi giúp chào đời, đều có chung một nhận xét là con họ thông minh sớm, và, rất nghịch, “phá quá trời đất!”

Comments

comments