Loét Bao Tử

Loét, đau, viêm dạ dày tá tràng, (peptic ulcer) xảy ra khi lớp niêm mạc lót bên trong thành bao tử, cuống thực quản (esophagus), hay đoạn đầu của ruột non (duodenum)  bị…loét vì chính dịch vị acid tiết ra từ những tế bào bao tử. Vì thế nói chung chung là “đau bao tử” thì cũng không hoàn toàn đúng lắm, tuy nhiên, trong bài viết này, xin tạm gọi ngắn gọn là “loét bao tử”.

Nguyên nhân:

Loét bao tử khá phổ biến, ảnh ưởng đến hằng triệu người Mỹ mỗi năm. Những hiểu biết không đúng hẳn trước đây, cho rằng chất acid trong bao tử tăng cao vì ăn đồ “nóng”, đồ cay, uống cà phê, chocolate, hay căng thẳng áp lực đời sống (life stress) làm cho loét bao tử. Thật ra, tuy acid vẫn là yếu tố cần thiết, hai lý do chính gây ra loét bao tử là một loại vi trùng tên “Helicobacter pyloricus” (H. pylori) và dùng thuốc trị đau kinh niên NSAIDs như aspirin, ibuprofen (Advil, Motrin IB), naproxen (Aleve, Anaprox) v.v…

Thường, H. pylori không gây ra vấn đề, nhưng nó có thể gây ra tình trạng viêm lớp niêm mạc bên trong của dạ dày, tạo ra một hay nhiều vết loét, sau đó dịch acid bao tử sẽ làm nặng thêm. Người ta không biết rõ ràng H. pylori lây lan như thế nào, nhưng nó có thể được truyền từ người này sang người khác qua máu và dịch cơ thể, qua tiếp xúc gần gũi, chẳng hạn như hôn nhau. H. pylori cũng có thể truyền qua thức ăn và nước.

Một số thuốc theo toa khác cũng có thể dẫn đến loét bao tử gồm thuốc dùng để điều trị chứng loãng xương được gọi là bisphosphonates (Actonel, Fosamax) và sung bổ sung chất kiềm potassium.

Hút thuốc lá cũng là một nguyên nhân quan trọng có thể gây ra và ảnh hưởng đến sự chữa trị bệnh loét bao tử. Uống rượu nặng có thể kích thích và làm xói mòn màng nhầy dạ dày, và làm tăng lượng acid sản xuất ra trong dạ dày.

Triệu chứng:

Đau! Đau buốt vùng bụng trên, từ lỗ rốn lên tới chấn thủy hay bờ dưới của xương sườn là triệu chứng thông thường nhất của bệnh loét bao tử. Cơn đau xảy ra khi dịch vị acid tiếp cận với nhưng chỗ loét trong bao tử. Những cơn đau thường trở nặng khi bao tử trống không thức ăn, bùng phát nửa đêm về sáng trong khi ngủ. Những triệu chứng khác cần qua tâm gồm có: sình bụng, ợ hơi chua, buồn nôn, ói mửa ra máu màu đen hay đỏ tươi, đi tiêu ra phân đen hay màu xác cà phê, ăn không ngon và xuống cân.

Chẩn đoán bệnh:

Bệnh loét bao tử có thể được chẩn đoán bằng X-ray vùng ruột trên bao gồm thực quản, bao tử và ruột non, gọi là “upper GI series”. Chính xác hơn, phải dùng phương pháp nội soi ruột trên, upper gastrointestinal endoscopy (EGD or esophagogastroduodenoscopy), bác sĩ sẽ thấy được chỗ lở và làm thử nghiệm định bệnh H. pylori.

Chữa trị:

Thuốc chống ợ chua: như Maalox, Mylanta không cần toa bác sĩ có thể trung hòa bớt dịch acid trong bao tử.

Thuốc bảo vệ màng bao tử và màng ruột: gồm loại không toa như bismuth subsalicylate (Pepto-Bismol) và thuốc có toa như sucralfate (Carafate) và misoprostol (Cytotec)

Thuốc làm giảm sản xuất acid: histamine “H2 blockers” làm giảm lượng acid tiết ra trong dạ dày, bớt cơn đau do vết loét và làm cho mau lành chỗ lở. Các loại thuốc này có thể mua không cần toa bác sĩ như ranitidine (Zantac), famotidine (Pepcid), cimetidine (Tagamet) và nizatidine (Axid).

Thuốc ngăn chặn sự sản xuất acid trong bao tử: còn gọi là thuốc ức chế bơm proton (Proton pump inhibitors), chặn đứng những cơ chế trong tế bào bao tử sản xuất ra acid Những thuốc này cũng có thể mua không cần toa như omeprazole (Prilosec), lansoprazole (Prevacid), rabeprazole (Aciphex), esomeprazole (Nexium) và pantoprazole (Protonix).

Thuốc diệt vi trùng H. pylori:

Nếu chẩn đoán có vi trùng H. pylori, bác sĩ phải cho dùng thuốc trụ sinh. Vì vi trùng H. pylori thuộc loại “bất kham” rất khó trị, nên bác sĩ phải dùng một chế độ thuốc bao gồm các loại thuốc trên đây cộng thêm 2 trong các thứ trụ sinh như tetracycline, amoxicillin, metronidazole (Flagyl), clarithromycin (Biaxin), and levofloxacin (Levaquin). Tổ hợp thuốc thường dùng gồm có Peopto-Bismol, Prilosec, amoxicillin và Flagyl. Một số nghiên cứu cho thấy vi trùng H. pylori có thể kháng thuốc và vô hiệu hóa các thuốc như Flagyl và Biaxin, bác sĩ có khi phải dùng thuốc azyhtromycin (Zithromax) hay Avelox để thay vào. Trung bình phải uống thuốc từ 10 đến 14 ngày, khoảng từ 5 dến 7 ngày thì triệu chứng đau sẽ bớt đi nhiều.

Thuốc dân gian: mật ong trộn với bột nghệ hay bột quế làm thành viên có thể làm bớt triệu chứng đau dạ dày.

Phòng bệnh:

Ăn uống: Ăn đồ ăn nấu chín, không nên dùng thực phẩm ăn sống. Khi ăn nên nhai kỹ, và ăn chậm lại. Tránh không ăn quá no vô một bữa mà chia thành nhiều bữa , 4 tới 5 lần một ngày để khỏi làm căng bao tử vì khi dạ dày bị căng dễ kích thích tiết ra acid nhiều hơn. Tránh ăn những thức ăn có nhiều dầu mỡ, đồ chiên, và các loại thịt nguội như dăm bông, lạp xưởng, xúc xích. Tránh các loạt thịt có nhiều gân, sụn. Tránh các loại trái cây sấy khô. Nói chung là những thứ đồ ăn dễ tiêu hóa. Cuối sùng, không hút thuốc lá và bớt uống rượu nặng.

Thuốc men: Nên dùng thuốc acetaminophen (Tylenol) để trị đau nhức thay cho các loại thuốc NSAIDs có thể gây ra bệnh nêu trên. Trong trường hợp phải dùng các thuốc NSAIDs, thì, càng ít càng tốt và uống thuốc khi bụng no.

Giảm áp lực đời sống: Tuy áp lực đời sống không gây ra bệnh loét bao tử nhưng nó có thể làm cho bệnh trở nặng và khó lành. Nên loại trừ tất cả nhưng yếu tố nguy cơ có thể gây ra…stress. “Sống đơn giản cho đời thanh thản”! Thanh thản ở đây bao gồm nhiều thứ, ở đây trước mắt là những cơn đau bao tử khó chịu.

Comments

comments