Mổ tim

Thật ra khi nói mổ tim có nhiều thứ mổ tim khác nhau. Trong phạm vi bài nầy chúng ta sẽ đề cập đến loại mổ tim thông dụng nhất gọi là “coronary artery bypass graft”, gọi tắt là CABG, và đọc là “cabbage” (bắp cải). CABG tạm dịch nghĩa là “mổ ghép nối động mạch vòng tim”.

Phương pháp mổ “bắp cải”, CABG được dùng để trị bệnh tim khi mà hệ thống động mạch vòng, bao quanh, cung cấp dưỡng khí cho trái tim bị nghẽn. Mục đích của phương pháp “bypass” cũng như mở thêm đường, cho máu chạy quanh chổ nghẽn để cung cấp oxygen cho tim.

Một số mạch máu phụ từ lồng ngực, cánh tay, và chân có thể dùng để làm cầu nối, hay đoạn “detours” băng qua chỗ nghẽn. Những mạch máu nầy tuy bị “tướt” đi, nhưng hệ thống mạch máu chung quanh chỗ bị “trưng thu” vẫn đủ để cung ứng máu cho phần tế bào chung quanh đó. Bác sĩ giải phẫu sẽ quyết định sử dụng trưng thu chỗ nào tuỳ theo chỗ bị nghẽn, mức độ bị nghẽn, và kích thước của đoạn động mạch bị nghẽn.

nguồn: wiki

Có bốn loại mạch máu được sử dụng để ghép mạch máu tim:
1. Mạch máu phụ trong lồng ngực gọi là “thoracic arteries”. Đây là loại mạch máu được sử dụng nhiều nhất. Không cần phải cắt bỏ một đoạn mạch máu làm cầu, bắc qua sông như chúng ta tưởng tượng. Trong khi mổ, nguồn của mạch máu vẫn được giữ nguyên, chỉ đầu của mạch máu được tháp nối phia hạ lưu của chỗ nghẽn. Nói cho dễ hiểu, giống như ta dẫn nước từ một con kênh nhỏ, đổ vào con kênh khác, băng qua chỗ nghẽn. Cái tiện của phương pháp nầy là, mạch máu nằm ngay trong lồng ngực, dễ xoay xở.
2. Tĩnh mạch bắp chân, gọi là “saphenous veins”. Đoạn tĩnh mạch nầy được rút ra từ dưới bắp chân và dùng để nối trực tiếp từ động mạch chủ aorta, tháp vào phía hạ nguồn của chỗ nghẽn. Thí dụ tượng hình là đào một con kênh cho chạy nước từ sông lớn như sông Hồng hay sông Cửu Long, cho chảy vào kênh rạch trong ruộng.
3. Mạch máu cổ tay và bắp tay dưới. Trong cánh tay của bạn có hai mạch máu, một gọi là “ulnar artery” chạy sát phía trong nách xuống cổ tay, và một là “radial artery” chạy phía ngoài, cũng xuống cổ tay. Mạch máu chính là ulnar, còn radial phía ngoài là phụ, có thể trưng thu được mà không gây ảnh hưởng tai hại.
4. Mạch máu bao tử gọi là gastroepiploic artery và inferior epigastric artery ít khi được sử dụng nhưng có thể được trưng thu nếu cần.
Có ba phương pháp mổ tim CABG:
1. Phương pháp cổ điển (Traditional Heart Bypass Surgery):

Trong phương pháp nầy, bác sĩ sẽ mổ xương ức của bạn, tức là xương từ dưới cổ xuống chấn thuỷ, để thấy được lồng ngực bên trong. Hệ thống máu được gắn vào một máy bơm máu ở ngoài gọi là heart-lung machine thay cho tim và phổi của bạn, trước khi bác sĩ cho tim của bạn… ngừng đập. Trên lý thuyết, bạn đã… chết! Kế đến bác sĩ sẽ làm các thủ thuật ráp nối động mạch. Cuộc giải phẫu có thể kéo dài từ 90 phút cho đến 5 giờ đồng hồ. Sau đó, tim của bạn sẽ được cho đập trở lại trước khi lồng ngực được đóng lại bằng dây… thép.
2. Phương pháp không dùng máy bơm, gọi là “Off-Pump Heart Bypass Surgery”:

Lý do của phương pháp cổ điển, cho trái tim của bạn ngừng đập, “ngủ yên” hoàn toàn vì khi trái tim đập sẽ khó mà khâu vá. Một số dụng cụ thiết bị mới cho phép chỉ một phần nào đó của trái tim phải “tạm nghỉ” mà thôi. Phương pháp nầy trên lý thuyết ít nguy hiểm hơn, ít phản ứng phụ như bị nghẽn mạch máu cổ, nuôi não bộ, có thể gây ra tai biến não (stroke), hay ít bị nghẽn mạch máu nuôi thận, làm suy thận. Hiện nay tuy phương pháp nầy càng thông dụng nhưng chỉ có 20% các ca mổ tim sử dụng phương pháp nầy, vì tùy thuộc vào bệnh nhân có thể đáp ứng cho phương pháp nầy hay không.
3. Phương pháp mổ nhỏ:
Lồng ngực chỉ cần mổ một đường mổ dài chừng 3 inches (10 cm), được dùng khi chỗ nghẽn ít, và sử dụng mạch máu lồng ngực làm nguồn tiếp nối. Máy rô-bô phụ mỗ có thể giúp bác sĩ hoàn thành ca mổ. Phương pháp mổ này dĩ nhiên sẽ giúp bệnh nhân hồi phục nhanh hơn, ít nguy hiểm, ít mất máu, ít bị nhiễm trùng hơn.
Các nguy cơ, biến cố của việc mổ tim “bắp cải”:

Vì đây là một phương pháp mổ lớn, trên lý thuyết là bệnh nhân được đưa qua cửa tử và kéo về lại với sự sống nên một số biến cố có thể xảy ra, bao gồm: tim đập loạn nhịp, máu đông nghẽn trong động mạch, đau… tim, trụy tim, nhiễm trùng, suy thận, mất trí nhớ, tai biến mạch máu não.

Để giảm bớt sự cố có thể xảy ra, bác sĩ cần cứu xét xem bạn có đủ sức chịu đựng cuộc mổ tim hay không. Các bệnh kinh niên như tiểu đường, giản phế quản, bệnh thận, bệnh mạch máu, cần phải biết trước.
Giai đoạn hồi phục sau khi mổ tim:

Ngay sau cuộc mổ tim, trong phòng hồi sức, bệnh nhân có thể bị mất trí nhớ tạm thời, bị lú lẫn, không biết và nhận định được thời gian và không gian. Sau một vài ngày trong phòng hồi sức, bạn sẽ phải tiếp tục ở trong bệnh viện độ một tuần trước khi cho về nhà. Cho dù, một cuộc mổ không có tai biến, bạn tốn khoảng 3 đến 6 tháng mới hồi phục hoàn toàn. Trên lý thuyết là con tim của bạn sẽ vui trở lại vì có đủ máu, nhưng bạn cần phải thay đổi lối sống cách ăn uống, vận động để phòng ngừa bị nghẽn mạch máu tim trở lại.

Về lâu về dài , khả năng hồi phục chắc chắn là cao hơn trước khi mổ. Trên lý thuyết là 80-90%, nhưng trên thực tế phải trừ hao đi để đừng làm liều, yêu cuồng sống vội làm cho con tim của bạn lại không ngủ yên vì thiếu oxygen. Có 24% đến 40% có triệu chứng bị “mệt tim”, có thể nghẽn một phần trong vòng 1 năm, và 70% bị nghẽn một phần trong vòng 5 năm. Tùy theo chỗ bị rút mạch máu để làm cầu nối, hiện nay đa số một mạch máu nhỏ trong lồng ngực được dùng thì không có vấn đề về lâu về dài. Trong trường hợp phải dùng nhiều đọan mạch máu khác như ở cổ tay, có thể bị chứng carpel tunnel syndrome (nghẽn lưu thông cổ tay), đau tay, tê ngón tay. Nếu môt đoạn tĩnh mạch bắp chân được dùng thì đa số trường hợp cơ thể sẽ dùng các mạch máu phụ để đưa máu về tim trở lại. Tuy nhiên, thỉnh thoảng có thể bị chứng phù thủng ở chân, nếu máu không về tim kịp.

Tóm lại, tránh bị mổ tim bằng cách điều chỉnh lối sống ngay từ bây giờ, bạn nhé.

 

Comments

comments