Ung Thư Vú và Phụ Nữ Việt

BS. Hồ Ngọc Minh

http://www.uihealthcare.org/

Trong vài tuần qua, một nghiên cứu được đăng trên tờ báo chính thức của Hội Y Sĩ Hoa Kỳ (JAMA) báo động là tỉ số ung thư vú đã tăng nhiều hơn trong nhóm phụ nữ trẻ trong độ tuổi từ 15 đến 39. Theo bác sĩ Rebecca Johnson người cầm đầu nghiên cứu này, cho biết, trong vòng từ 3 đến 4 thập niên (30-40 năm) vừa qua, tỉ số bị ung thư vú trong số các phụ nữ tuổi nhỏ hơn 40 đã tăng đều đặn từ 1.53 /100,000 trong năm 1976 tới 2.9/100,000 trong năm 2009. Có nghĩa là gần gấp đôi. Con số tuy nhỏ, nhưng điều đáng ngại là, khi phụ nữ trẻ bị ung thư vú, thường là nặng hơn các bệnh nhân phụ nữ lớn tuổi, và tỉ lệ tử vong rất cao, chiếm khoảng 14% người chết vì ung thư trong tổng sổ các loại ung thư khác nhau ở lứa tuổi này.

Số liệu nói trên phản ánh cái nhìn ngược lại quá khứ, dựa trên các thống kê đã cũ. Còn nhìn tới và tổng quát thì sác xuất bị ung thư vú trong độ tuổi dưới 40 thì như thế nào? Một nghiên cứu năm 2008 cho biết, trung bình trong 173 người đàn bà trẻ hơn tuổi 40, có 1 người có thể bị ung thư. Trong khi đó tỉ số có thể bị ung thư vú cho phụ nữ Mỹ ở mọi lứa tuổi là 1 trên 8 (12%). Thí dụ dễ hiểu, nếu bạn đi ra shopping mall, ngồi nhìn các bà đi mua sắm, qua lại, cứ 8 người thì có một người, đã, đang, và có thể bị ung thư vú! Con số không phải là thấp.
Khoảng thời gian gần 4 thế kỷ vừa qua cũng là khoảng thời gian mà người Việt đến định cư tại Hoa Kỳ, nhiều nhất là tại quận Cam sau ngày 30 tháng 4 năm 1975. Một bé gái chào đời sau năm 1975 và lớn lên ở Mỹ, rõ ràng là một người Mỹ gốc Việt trong độ tuổi dưới 40! Câu hỏi được nêu ra ở đây là tỉ số bị ung thư vú trong phụ nữ Mỹ gốc Việt có cao như người bản xứ hay không?

Hiện nay vẫn chưa có một con sổ chính xác và cập nhật về tỉ số phụ nữ Mỹ gốc Việt bi ung thư vú.

Thật ra, khi biết mình bi đau yếu, ung thư, vô sinh hiếm muộn, hay các chứng bệnh nan y khác, bệnh nhân, không phân biệt màu da hay tuổi tác đều bị măc cảm cô đơn, sợ bi ruồng bỏ, và dễ đi đến tuyệt vọng, Trên cả mẫu số chung là sư phiền muộn, cộng đồng người Việt chúng ta còn có thêm yếu tố văn hoá và tôn giáo làm ảnh hưởng nhiều đến việc khai báo, truy tầm, định bệnh và chữa trị kịp thời. Dựa trên một bài báo đăng trên tờ Los Angeles Times (August 11, 2012), thì bệnh nhân Việt Nam khi bị ung thư thường cho là vì kiếp trước ở ác nên chịu hình phạt ở kiếp này. Vì thế khi biết mình có ung thư, phụ nữ Việt thường dấu kín, biệt, sợ bị chê cười. Ngoài ra vì sự khiêm cung và tế nhị của nền văn hóa Việt, ung thư vú thì gọi là ung thư “nhủ hoa” (flower bud) hay ung thư ngực. Trong khi, ung thư ngực có thể bao gồm nhiều loại ung thư khác nhau ở vùng ngực. Hơn thế, đa số phụ nữ gốc Việt trẻ tuổi có thể không còn hiểu ung thư “nhủ hoa”, ung thư “flower bud” là ung thư ở đâu cả!

Năm 2002, một nghiên cứu của trường đại học Stanford, về sác xuất bị ung thư vú của phụ nữ người Việt so với cư dân của các cộng đồng khác tại thành phố San Francisco, cho biết: sác xuất bị ung thư vú của phụ nữ gốc Việt là thấp nhất, chỉ bằng 1/3 của người da trắng hay da đen. Trong khi đó các phụ nữ Mỹ gốc Á Châu khác có sác xuất bị ung thư gấp đôi người Việt. Tuy nhiên điểm dáng lưu ý là, các phụ nữ Á Châu này đều được sanh ra và lớn lên tại Mỹ. Sác xuất bị ung thư vú của những người Mỹ gốc Á Châu này vẫn cao hơn sác xuất bị ung thư vú của phụ nữ tại các nước như Trung Quốc, Nhật, Đại Hàn, và Phi Luật Tân. Một nghiên cứu mới hơn, năm 2010, cho thấy sác xuất bị ung thư vú trong cộng đồng người Mỹ gốc Á Châu tại vùng Bắc California, cũng tăng cao hơn so với 10 năm trước. Nghiên cứu cũng cho thấy phụ nữ Việt ở Bắc Cali bị ung thư vú ở độ tuổi trung bình trẻ hơn các sắc dân khác.

Một số phụ nữ bị ung thư vú có thể mang một hoặc hai nhân di truyền (genes) BRCA1, hay BRCA2 trong DNA của họ. Vì thế khi biết mình có những genes này, một số phụ nữ đã tự nguyện chịu giải phẫu cắt bỏ đôi “nhũ hoa” trước khi ung thư phát tác. Năm 2011 một nghiên cứu của trường đại học University of Toronto, Canada cho thấy là con số phụ nữ trong nước Việt Nam có mang nhân di truyền ác độc BRCA1 hay BRCA2, thấp nhất thế giới!

Qua các nghiên cứu trên đây, chúng ta có thể rút tỉa được một nhận xét: tuy được ưu thế về yếu tố di truyền, là, người Á Châu nói chung có thể ít bị ung thư vú hơn phụ nữ các chủng tộc khác nhưng yếu tố môi trường và nề nếp sống cũng đóng phần quan trọng trong căn bệnh ung thư vú. Cộng đồng người Việt chúng ta, so với các cộng đồng người Á Châu khác vẫn còn non trẻ hơn, vì thế tỉ số bị ung thư vú có thể tạm thời thấp hơn, nhưng về lâu về dài, sác xuất bị ung thư vú sẽ tăng dần, bắt kịp các sắc dân khác ở Mỹ.

Làm thế nào đễ tránh hoặc bớt hiểm họa có thể bị ung thư vú?

Nhiều phụ nữ bị ung thư vú không có một yếu tố nguy cơ (risk factor) nào báo trước cả, trong khi đó, một số khác dù có một vài nguy cơ nhưng không bao giờ bị ung thư vú cả. Chúng ta có thể liệt kê một số nguy cơ có thể đưa đến bệnh ung thư vú. Một số yếu tố nguy cơ không thể nào tránh được thí dụ như, tuổi tác và yếu tố di truyền, tuy nhiên một số yếu tố khác như uống rựợu, tăng cân trên trung bình, có thể điều chỉnh được để tránh nguy cơ bị ung thư vú.

Cụ thể, như đã đề cập trên đây, những yếu tố nguy cơ không thế thay đổi đươc là:

Tuổi tác: Càng lớn tuổi càng đễ bị ung thư vú.
Chủng tộc: Phụ nữ da trắng trên 40 dễ bị ung thư vú nhiều nhất. Phụ nữ da đen, ít hơn một tí nhưng lại dễ chết vì ung thư vú hơn người da trắng. Phụ nữ Á Châu trong đó có người Việt ít bị ung thư vú hơn cả.
Đã từng bị ung thư: Phụ nữ bị ung thư một bên vú, nguy cơ tái phát bên còn lại sẽ cao hơn.
Gia đình có người đã bị ung thư, như mẹ, chị em gái, hay con gái. Nếu số người bi ung thư vú trong gia đình càng nhiều thì sác xuất bị ung thư vú càng tăng cao.

Có nhân di truyền gene BRCA1 và BRCA2, người Việt mình ít có gene này hơn người Âu châu nhưng không phải là không có.

Tuổi bắt đầu có kinh và tuổi nghỉ kinh: Người có kinh trước 12 tuổi và / hoặc nghỉ kinh sau 54 có nguy cơ ung thư vú cao hơn trung bình một tí.

Có con đầu lòng trễ: Phụ nữ sanh con đầu lòng sau 29 tuổi, dễ bị ung thư vú hơn. Sanh con càng nhiều và cho con bú sữa mẹ thì nguy cơ bị ung thư vú càng ít đi.

Những yếu tố nguy cơ khác có thế thay đổi được là:

Sức nặng cơ thể: Phụ nữ trên cân quá mức trung bình dễ bị ung thư vú hơn người có sức nặng lý tưởng.
Rượu: Phụ nữ uổng rượu trên một ly mỗi ngày, và, càng uống nhiều càng đễ bi ung thư hơn. Nên hạn chế xuổng một vài ly rượu mỗi tuần là tốt hơn cả.
Hormone, kích tố nữ: Phụ nữ uống nhiều hormone estrogen lâu năm có nguy cơ ung thư vú tăng cao khoảng 26%.

Những yếu tố khác như, uống thuốc ngừa thai, hút thuốc lá, ăn nhiều chất béo, hay ô nhiễm môi trường, các nghiên cứu hiện nay vẫn chưa có kết luận rõ ràng. “Ông nói gà, bà nói vịt”, hay “mình thấy có, nó bảo không”. Tránh được thì nên tránh.

Nghiên cứu cũng cho biết phụ nữ có giải phẫu căng, nâng ngực, không có nguy cơ bị ung thư vú.

Tiện đây xin đề cập đến nguy cơ bị ung thư vú trong những người làm móng tay ở California và Quận Cam.

Một số liệu thống kê cho biết, số tiệm làm móng tay ở California đã tăng gấp 3 trong vòng 20 năm vừa qua với hơn 80% tiệm do người Việt điều hành trong đó 95% công nhân là phụ nữ. Một số các hoá chất có trong sản phẫm làm móng tay như: Formaldehyde, Silica (quartz hay crystobalite), Methylene Chloride và Titanium Dioxide là những chất được biết hay nghi ngờ có thể gây ra các loại ung thư hoặc làm tăng nguy cơ bị ung thư. Hoá chất DiButyl Phthalate có trong bột làm móng tay có thể gây ra sự bất thường cho chu kỳ kinh nguyệt và sự rụng trứng, và còn gây ảnh hưởng tác hại đến các hệ thống nội tiết khác trong cơ thể (endocrine system). Cuối cùng hoá chất Toluene bị nghi ngờ có thể gây ra thai nhi bị tàn tật, làm tăng khả năng bị sẩy thai.

Trong khi chờ đợi thông tin về những số liệu thống kê hay nghiên cứu mới rõ ràng hơn về nguy cơ ung thư vú hay các loại ung thư khác trong cộng đồng người làm móng tay, chúng ta nên tìm mọi cách cải thiện môi trường làm việc cho công nhân trong nghề làm móng tay.

Suy ra, những nguyên nhân có thể làm tăng con sổ phụ nữ dưới tuổi 40 bị ung thư vú trong 4 thập niên qua, có thể là do phụ nữ ngày nay thường có con trễ, uống nhiều rượu hơn trước, và hệ quả của hiện trạng béo phì.

Đối với phụ nữ Á Châu mới đến từ châu Á, hiện đang sống tại Hoa Kỳ, tỉ lệ mắc bệnh ung thư vú còn tương tự như ở quốc gia gốc của họ. Trong khi đó phụ nữ Á Châu sống một thời gian dài ở Hoa Kỳ, tỉ lệ mắc bệnh ung thư vú ngày càng tăng cao như người bản xứ. Còn thế hệ thứ hai sanh ra và lớn lên tại Mỹ, tỉ lệ mắc bệnh ung thư của họ sẽ xấp xỉ như các sắc dân khác.

Vì vậy, câu hỏi đối với cộng đồng người Việt có một dân số lớn, sống và làm việc tại Orange County, California, làm thế nào để bớt đi nguy cơ bệnh ung thư vú?

Lời khuyên cho quý bạn là phải thay đổi và điều chỉnh tức khắc những yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được. Thêm vào đó nên theo các lời khuyên của Hội Ung Thư Hoa Kỳ (American Cancer Society), tư vấn với bác sĩ gia đình để được khám nghiệm và truy tầm ung thư vú nhất là khi bạn có những yếu tố nguy cơ không thay đổi được đã trình bày ở trên. Truy tầm, định bệnh và chữa trị sớm sẽ làm giảm tỉ lệ tử vong vì bệnh ung thư vú.

Tự khám vú:

Comments

comments